Trong thời gian qua, rất nhiều trường hợp người dân khi ngủ không mắc màn (mùng) để chuột bò vào và cắn vào chân, ngón tay chảy máu. Một số người chủ quan xem thường không đi bệnh viện kiểm tra nên đã nhiễm bệnh từ chuột.
Vậy khi chuột cắn có gây bệnh gì không? Các bệnh có thể mắc khi bị chuột cắn:
– Bệnh sốt do chuột cắn là bệnh do động vật truyền sang người, thông qua các vết cắn, vết cào của các con vật thuộc bộ gặm nhấm, đặc biệt là chuột hoặc các con vật nuôi trong nhà (chó, mèo vv…). Dựa theo căn nguyên và các biểu hiện lâm sàng chúng ta có thể phân biệt:
– Bệnh Sodoku, được mô tả bởi tác giả người Nhật Bản, gây nên bởi Spirillum minus.
– Bệnh sốt Haverhill được mô tả bởi tác giả người Mỹ, gây nên bởi Streptobacillus moniliformis
– Nhiễm hantavirus: là bệnh do chuột truyền qua chất thải như phân, nước tiểu, nước bọt của chuột. Người bệnh có triệu chứng như sốt cao, nhức đầu, mệt mỏi, hạ huyết áp, xuất huyết dưới da, tiểu ít, suy thận. Tỉ lệ tử vong khoảng 5% nếu không điều trị kịp thời.
– Bệnh dịch hạch (qua bọ chét).
– Uốn ván: là bệnh nhiễm trùng-nhiễm độc toàn thân do trực khuẩn Clostridium tetani gây nên, tỉ lệ lây từ chuột sang rất thấp.
– Bệnh dại: Chuột và các động vật thuộc họ gặm nhấm không bị nhiễm virus dại và chưa có báo cáo về việc lây truyền virus dại cho người từ nhóm động vật này.

Trong bài này chủ yếu đề cập đến bệnh sốt do chuột cắn

1. Bệnh Sodoku
Bệnh Sodoku được ghép 2 từ tiếng Nhật, so = chuột, doku = nhiễm độc. Người ta phân lập ra xoắn khuẩn từ máu của bệnh nhân và đặt tên là Spirillum minus vào năm 1924. Xoắn khuẩn Gram âm ngắn với 2 đến 2 vòng xoắn và không mọc được trong môi trường nuôi cấy nhân tạo.
Dịch tễ

Spirillum minus thường gây bệnh sốt do chuột cắn ở châu Á, một vài ca bệnh rải rác được báo cáo ở châu Úc, châu Phi, châu Mỹ và châu Âu. S. minus được tìm thấy ở cơ lưỡi của các loài chuột, chó, mèo hoàn toàn khỏe mạnh. Bệnh được lây một các tình cờ, trực tiếp qua các vết cắn hoặc vết cào, hoặc gián tiếp thông qua tiếp xúc, hoặc ăn các thức ăn có lẫn nước tiểu của chuột chứa mầm bệnh. 25% số chuột được xét nghiệm có mang S. minus.

Biểu hiện lâm sàng
Thời kỳ ủ bệnh của bệnh Sodoku thường từ 5 ngày đến 4 tuần. Khởi phát đột ngột với biểu hiện:
+ Sốt cao (390C – 400C), ớn lạnh, sốt thành từng cơn, sốt không có tính chu kỳ, xen kẽ là thời kỳ không sốt là những biểu hiện thường thấy ở các bệnh nhân bị chuột cắn gây ra bởi Spirillum minus. Sự tái phát cơn sốt có thể xuất hiện vài lần trong vòng từ 1 đến 3 tháng.
+ Các dấu hiệu ngoài da là các ban sẩn xuất huyết, có xu hướng dính liền với nhau, thường tập trung ở da đầu, mặt và nửa thân trên.
+ Ở chỗ bị cắn, các tổn thương ngoài da có thể tự khỏi, nhưng phần lớn các trường hợp xuất hiện ban xuất huyết hoại tử tại chỗ và có phản ứng của hạch khu vực.
+ Trong quá trình bị bệnh, bệnh nhân có thể có các biểu hiện đâu cơ, đau khớp và thường diễn biến dẫn tới viêm khớp.
+ Trong những trường hợp nặng, bệnh nhân có thể có các dấu hiệu của hệ thống thần kinh: đau đầu, ảo giác, mê sảng dẫn đến hôn mê. Biến chứng có thể xảy ra: viêm nội tâm mạc, viêm màng não, nhồi máu cơ tim, viêm gan, viêm màng phổi, viêm mào tinh hoàn, thiếu máu nặng. Nếu bệnh nhân không được điều trị, bệnh kéo dài thường 1 đến 2 tháng và gây ra tỷ lệ tử vong khoảng 6 đến 10%.

Chẩn đoán
+ Bệnh Sodoku thường được chẩn đoán bằng việc tìm thấy tác nhân gây bệnh ở trong máu, hạch lympho, vết thương bị cắn, ban trên da. Spirillum minus có thể được tìm thấy trên kính hiển vi nền đen, nhuộm Giemsa, nhuộm Wright hoặc nhuộm bạc. Vi khuẩn hình xoắn khuẩn ngắn, gram âm (rộng 0.2-0.5µm và dài 3-5µm), có lông roi ở hai đầu. Hiện nay vẫn chưa thể nuôi cây vi khuẩn trên môi trường nhân tạo.
+ Trong trường hợp soi kính hiển vi không phát hiện được, máu hoặc dịch tại chỗ tổn thương có thể được cấy vào chuột, để phân lập S.minus.

2. Bệnh sốt Haverhill
Bệnh sốt do chuột cắn căn nguyên là Streptobacillus moniliformis được biết đến dưới tên gọi là sốt Haverhill, sốt Haverhill được mô tả tại Ấn Độ 2000 năm trước và nó là bệnh phổ biến hơn Sodoku. Năm 1926, Streptobacillus moniliformis được xác định là nguyên nhân gây bệnh tại thị trấn Haverhill, bang Massachusetts.

Streptobacillus moniliformis là trực khuẩn gram âm, ưa khí, không di động, không có vỏ bao, đa hình thể. Chúng thường có hình cầu, hình oval, hình thoi, trong một số trường hợp chúng cuộn thành hình khối. Chúng được tìm thấy trong mũi hầu của chuột.

Dịch tễ
Bệnh xuất hiện rải rác ở một số các gia đình nghèo. Sốt Haverhill có thể thấy ở các vùng khác nhau trên thế giới nhưng hay gặp nhất là ở Mỹ và đôi khi gặp ở châu Âu. Sự lây truyền sang người trực tiếp thông qua vết cắn hoặc vết cào của chuột và bởi ăn các thức ăn chưa được nấu chín hoặc nguồn nước có lẫn nước tiểu của chuột bị bệnh, hoặc gián tiếp thông qua việc tiếp xúc giữa bàn tay không được bảo vệ với các con chuột bị ốm, chết trong phòng thí nghiệm. Streptobacillus moniliformis có thể xâm nhập vào người qua da lành.

Biểu hiện lâm sàng
Thời gian ủ bệnh từ 3 – 10 ngày. Bệnh xuất hiện đột ngột với các biểu hiện:
+ Hội chứng nhiễm trùng, biểu hiện sốt cao trên 400C, gai rét, đau đầu. Hội chứng nhiễm trùng xuất hiện dai dẳng, gián đoạn.
+ Triệu chứng của đường tiêu hóa như: buồn nôn, nôn xuất hiện khi Streptobacillus moniliformis lây qua đường tiêu hóa.
+ Đau cơ, đau khớp có thể xuất hiện với đặc điểm đau di chuyển từ khớp này sang khớp khác. Một nửa số bệnh nhân có biểu hiện như viêm khớp dạng thấp hoặc viêm khớp nhiễm trùng không đối xứng, tập trung ở các khớp lớn
+ Triệu chứng trên da với biểu hiện các ban xuất huyết ở gan bàn chân, gan bàn tay.
+ Biểu hiện sốt sẽ giảm dần sau 3-5 ngày thậm chí không cần điều trị kháng sinh, các biểu hiện của khớp cũng biến mất trong khoảng 10-14 ngày.
+ Trường hợp nặng thường có các biến chứng: viêm nội tâm mạc, nhồi máu cơ tim, viêm màng ngoài tim, viêm phổi, viêm màng não, hội chứng thiếu máu.

Chẩn đoán
Chẩn đoán thông qua cấy máu, dịch khớp, dịch rỉ từ vết thương. Phụ thuộc vào môi trường nuôi cấy, vi khuẩn có thể mọc đơn độc hoặc thành từng chuỗi. S.moniliformis phát triển khó và phải được nuôi cấy trong môi trường có 20% huyết thanh, máu hoặc dịch cổ trướng. Vi khuẩn không phát triển tốt trong các môi trường thông thường. Phương pháp gây nhiễm cho động vật gặm nhấm cũng được sử dụng trong chẩn đoán, chẩn đoán bằng huyết thanh có độ tin cậy không cao, ngoài ra có thể dùng kỹ thuật gen PCR (polymerase chain reaction).

3. Điều trị bệnh sốt do chuột cắn
– Tỉ lệ mắc bệnh hơn 25% số bệnh nhân không được điều trị. Việc điều trị bệnh sốt chuột cắn kết hợp với việc chăm sóc vết cắn của chuột.
– Chăm sóc vết cắn: Ngay sau khi bị chuột cắn thì nên rửa sạch bằng nước muối, thuốc sát trùng, nước xà phòng. Khi đến bệnh viện bệnh nhân cần được tiếp tục rửa sạch vết thương và tiêm phòng uốn ván.
– Dùng kháng sinh Penicillin tĩnh mạch (2 triệu đơn vị mỗi 4 giờ), trong 5-7 ngày. Nếu lâm sàng cải thiện có thể ampicillin 500mg x 4 lần/ngày đường uống cho đủ thời gian 7 ngày.
– Trong những trường hợp dị ứng với penicillin, có thể thay thế bằng tetracycline (viên uống, 500mg/lần x 4 lần/ngày) hoặc doxycycline (100mg, uống hoặc tiêm tĩnh mạch x 2 lần/ngày), trong 5-7 ngày. Hoặc Streptomycin 1 – 2 g/ngày tiêm bắp x 7 ngày

4. Dự phòng
– Để tránh bị chuột cắn phải người dân cần ngủ mắc màn, chặn màn chặt để không cho chuột chui vào cắn.
– Nên vệ sinh nhà cửa sạch sẽ, tránh để đồ đạc ẩm thấp, bừa bãi làm nơi chuột trú ngụ, sinh sản.
– Không dùng tay không để bắt chuột.

5. Tóm lại
Bệnh sốt do chuột cắn là một bệnh hiếm gặp, là bệnh nhiễm trùng toàn thân. Nguyên nhân do Spirillum minus hoặc Streptobacillus moniliformis gây nên. Streptobacillus moniliformis gây nên hầu hết các ca bệnh tại Mỹ, Spirillum minus thường gây bệnh tại châu Á.
– Người mắc bệnh thường qua vết cắn hoặc vết cào của chuột bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh, tiếp xúc với chuột nhiễm bệnh hoặc qua đường tiêu hóa, qua thức ăn hoặc nước uống bị nhiễm chất thải của chuột có chứa mầm bệnh.
– Các triệu chứng của bệnh sốt do chuột cắn có biểu hiện đột ngột với triệu chứng sốt cao, đau cơ, đau khớp, buồn nôn, nôn, đau đầu sau đó thường có nổi ban ở các chi, vùng trên thân người. Viêm đa khớp có thể xuất hiện ở một nửa số bệnh nhân. Các biến chứng có thể là viêm màng não, viêm cơ tim, viêm phổi và suy đa tạng.
– Việc chẩn đoán thông qua việc phân lập vi khuẩn (Spirillum minus) hoặc nuôi cấy (Streptobacillus moniliformis) máu hoặc dịch khớp, dịch viêm. Việc nuôi cấy thường khó khăn. Chưa có xét nghiệm huyết thanh để chẩn đoán.
– Penicillin tĩnh mạch là lựa chọn đầu tay. Việc điều trị theo kinh nghiệm ở bệnh nhân có tiền sử phơi nhiễm và triệu chứng lâm sàng trước khi có sự khẳng định của xét nghiệm vì thời gian xác định khá lâu.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *